Dung môi pha sơn và các nguy cơ rủi ro đối với người lao động

Dung môi pha sơn và các nguy cơ rủi ro đối với người lao động
5 (100%) 1 vote

Thời gian gần đây có nhiều phản ánh của những người lao động làm việc trong điều kiện tiếp xúc nhiều với dung dịch sơn, đồ nhựa về tình trạng sức khỏe như: tê, run chân tay, suy giảm sức khỏe, làm việc trong trạng thái vô tri vô giác, trong giấc ngủ thường bị mộng du,…Để làm rõ nguyên nhân gây ra hiện tượng trên, các ban ngành chức năng đã vào cuộc…

dung moi huu co

Công việc điều tra được tiến hành bắt đầu từ điều kiện sinh hoạt, điều kiện làm việc của người lao động,..Có một chi tiết rất quan trọng giúp công việc điều tra thu được kết quả nhanh chóng. Đó là, trong những ngày phải pha nhiều sơn thì hiện tượng trên xuất hiện càng nhiều cộng với không gian nơi làm việc chật hẹp, thiếu dưỡng khí,… Xâu chuỗi tất cả các chi tiết lại cơ quan chức năng đã xác định được thủ phạm gây ra hiện tượng trên là “Dung môi pha sơn”.

Vậy tại sao dung môi pha sơn lại đưa đến các hiện tượng trên? PGS.TS. Nguyễn Ngọc Ngà, Phó Chủ tịch hội Y học lao động Việt Nam đã đưa ra những tư vấn giúp người lao động hiểu rõ hơn tác hại của việc sử dụng dung môi pha sơn trong điều kiện không đảm bảo an toàn vệ sinh lao động.

Thuật ngữ “Dung môi” ám chỉ các hóa chất hữu cơ lỏng được dùng để hòa tan các vật liệu rắn. Dung môi có thể được làm từ các nguồn tự nhiên như dầu thông, các dung môi họ cam quýt, nhưng hầu hết lấy từ dầu mỏ và các nguồn nhân tạo khác. Các dung môi được dùng rộng rãi vì chúng hòa tan các vật liệu như nhựa và chất dẻo, bay hơi nhanh và sạch.

Dung môi tác hại đến sức khỏe con người như thế nào?

Dung môi được sử dụng trong hầu hết các loại sơn (kể cả loại sơn có thể gọi là “sơn tan trong nước”, vec-ni, mực, nhiều sản phẩm khí dung, ngành da giày, nhuộm, bút đánh dấu, hồ, keo, băng dính, một số hóa chất nhiếp ảnh và nhiều thứ khác.

Trước tiên phải khẳng định: Không có dung môi “an toàn”. Tất cả các dung môi tự nhiên hay tổng hợp đều độc, dù tồn tại dưới thể lỏng hay thể khí.

– Đối với hệ thần kinh:

Tất cả mọi dung môi đều có thể ảnh hưởng đến não hay hệ thần kinh trung ương có thể là: chóng mặt, đau đầu, dễ cáu, mệt mỏi, buồn nôn. Nhưng nếu tiếp xúc liều cao dần có thể có các triệu chứng từ “giống say rượu” đến bất tỉnh, chết. Nhiều năm tiếp xúc mạn tính với dung môi có thể bị tổn thương vĩnh viễn hệ thần kinh trung ương, dẫn đến giảm trí nhớ, lãnh đạm, trầm cảm, mất ngủ và nhiều vấn đề tâm thần khác mà khó phân biệt với các vấn đề do các nguyên nhân trong cuộc sống hàng ngày.

Dung môi cũng có thể gây tổn thương hệ thần kinh ngoại vi (là hệ thần kinh chỉ đạo từ cột sống ra các chi). Các triệu chứng do tổn thương hệ thần kinh ngoại vi có thể gồm: run, ngứa tứ chi, yếu, mệt, liệt. Một số dung môi như n-hexane (thấy trong luyện cao su và một số sản phẩm khí dung) có thể gây cả tác hại hệ thần kinh trung ương đến ngoại vi đưa đến triệu chứng tương tự “bệnh đa xơ cứng” (“multiple sclerosis”- một loại bệnh liệt dần dần).

Ngoài tác hại tới hệ thần kinh. Dung môi còn nhiều tác hại và nguy hiểm khác.

 

Làm việc với dung môi pha sơn không có biện pháp an toàn sẽ ảnh hương trực tiếp đến sức khỏe người lao động

– Tác hại tới da:

Tất cả mọi dung môi đều có thể hòa tan lớp mỡ bảo vệ da, làm khô da, nẻ da, gây nên một loại viêm da. Một số dung môi có thể gây kích thích da gây bỏng da nghiêm trọng. Các dung môi tự nhiên như limonene, dầu thông gây dị ứng da. Các dung môi khác có thể không gây triệu chứng ở da nhưng có thể xuyên qua da, xâm nhập vào máu, tới gây tổn thương các cơ quan khác.

– Tác hại tới mắt và đường hô hấp:

Tất cả mọi dung môi đều có thể kích thích và gây tổn thương niêm mạc nhạy cảm của mắt, mũi, họng. Khi hít vào sâu, hơi dung môi có thể gây tổn thương phổi. Nồng độ gây kích thích của các dung môi khác nhau. Thường thì người lao động không nhận biết được dung môi ở nồng độ thấp. Các triệu chứng về hô hấp thường thấy khi tiếp xúc với dung môi là các triệu chứng cảm lạnh, nhiễn khuẩn hô hấp. Việc tiếp xúc trong thời gian dài nhiều năm, có thể dẫn tới các bệnh hô hấp mạn tính như viêm phế quản mạn tính.

Tiếp xúc nồng độ cao, các triệu chứng sẽ nặng hơn, có thể bị chảy nước mũi, chảy máu mũi, đau họng. Hít phải nồng độ rất cao hoặc hít phải dung môi dạng lỏng có thể bị các rối loạn nghiêm trọng như viêm phổi do hóa chất, tử vong. Dung môi dạng lỏng bắn vào mắt có thể gây tổn thương mắt.

– Tác hại đối với các cơ quan nội tạng:

Loại và mức độ tác hại đối với các cơ quan nội tạng do dung môi có thể gây ra rất khác nhau. Nhiều dung môi có thể gây tổn thương gan và thận vì đây là các cơ quan có nhiệm vụ khử độc và thải loại chất độc ra khỏi cơ thể. Một dung môi là carbon tetrachloride có tác hại phá hủy gan, đặc biệt là khi uống rượu, có thể dẫn đến chết. Nhiều dung môi có thể làm biến đổi nhịp tim, thậm chí có thể gây cơn đau tim hay ngừng tim đột ngột ở nồng độ tiếp xúc cao.

Một số dung môi gây ung thư trên người hay động vật. Bezene gây ung thư máu, Carbon tetrachloride gây ung thư gan. Nhiều chuyên gia nghi ngờ rằng tất cả các dung môi clo hóa (trong tên có “Chloro” hay “chloride”) có thể là tác nhân gây ung thư.

– Các tác hại sinh sản và khuyết tật sơ sinh:

Các tác hại cho sinh sản và khuyết tật sơ sinh chưa được nghiên cứu đầy đủ nhưng các nghiên cứu hiện tại đã cho thấy có các lý do cần quan tâm. Thí dụ có những nghiên cứu cho thấy những người tiếp xúc với dung môi dù liều rất thấp cũng có tỷ lệ sảy thai và con khuyết tật cao hơn những người khác. Có hai loại dung môi đã thấy gây teo tinh hoàn ở động vật và gây khuyết tật sơ sinh là Glycol ether hay cellosolves (tìm thấy trong nhiều hóa chất nhiếp ảnh, các sản phẩm tẩy rửa tan trong nước, một số mực và sơn hòa tan trong nước, khí dung) và glycidyl erthers (tìm thấy trong sản phẩm nhựa như epoxy).

Nghiên cứu một số dung môi ít độc nhất – rượu ngũ cốc – cho thấy trẻ sơ sinh của các bà mẹ uống rượu thì có thể nhẹ cân và có các mức độ khác nhau về chậm phát triển trí não…

Khi làm việc người lao động có thể phải tiếp xúc với nhiều loại dung môi khác nhau, đặc biệt khi làm việc với sơn và keo dán. Việc tiếp xúc với nhiều loại dung môi cùng lúc có thể làm tăng thêm tác hại của dung môi.

– Tác hại cháy nổ:

Nói chung dung môi là chất dễ cháy nổ. Có hai thuộc tính liên quan đến khả năng cháy nổ của dung môi là tốc độ bay hơi và điểm chớp cháy. Tốc độ bay hơi càng cao và điểm chớp cháy càng thấp thì càng dễ nổ.

Để giảm thiểu những tác hại đối với sức khỏe người lao động, PGS.TS. Nguyễn Ngọc Ngà đã đưa ra một số nguyên tắc chung giúp người lao động làm việc với dung môi một cách an toàn:

Thứ nhất: Kiểm soát môi trường lao động

– Thay thế: lựa chọn quy trình không hoặc ít phải tiếp xúc với dung môi. Thay các sản phẩm chứa dung môi, phát triển các vật liệu tan trong nước hoặc dùng dung môi ít có độc hơn…

– Thông gió: thông gió chung, thông gió cục bộ hợp lý, hiệu quả, tránh tù hãm.

– Cách ly:

+ Cách ly các quy trình có sử dụng hay phát sinh dung môi, cách ly kho tàng.

+ Cách ly người lao động: sử dụng trang bị bảo vệ cá nhân đúng chủng loại, đảm bảo chất lượng.

– Vệ sinh nhà xưởng tốt.

– Giám sát môi trường định kỳ.

Thứ hai: Tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh lao động và quản lý chất thải (kể cả quản lý môi trường lao động, sức khỏe người lao động).

Thứ ba: Người sử dụng lao động phải có kế hoạch ứng cứu trong tình huống khẩn cấp. Bố trí các phương tiện ứng cứu thích hợp.

Thứ tư: Tham khảo phiếu an toàn hóa chất (MSDS) để nắm được tác hại của chất độc và hướng dẫn an toàn.

Thứ năm: Khi có các dấu hiệu về sực khỏe nghi ngờ do ảnh hưởng của dung môi, đặc biệt trường hợp có một vài người trở lên cùng trong môi trường làm việc có các than phiền về sức khỏe tương tự nhau cần báo với cán bộ y tế và người quản lý.