MUA BÁN POLYETHYLENE GLYCOL (PEG)

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN HIỆN VẬT GỖ NGẬP NƯỚC

MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP BẢO QUẢN HIỆN VẬT GỖ NGẬP NƯỚC
Đánh giá
  1. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG POLYETHYLENE GLYCOL (PEG)

Việc sử dụng PEG để bảo quản các hiện vật gỗ ngập nước được áp dụng phổ biến từ thập niên 50, do ông A.J Stamm (Hoa Kỳ) nghiên cứu và thực nghiệm đầu tiên. Trong quá trình xử lý hiện vật, dù chứng tỏ những hạn chế nhất định nhưng nó cũng đã góp phần quan trọng cho việc bảo qủan những con tàu bị đắm như Wasa (1628); Amsterdam (1749) và Bremen (1380).

– PEG là những polymere ethylene oxid với công thức tổng quát là HOCH2-(CH2OCH2)n-CH2OH với n là số trung bình nhóm oxyethylene.

– PEG với các phân tử nặng từ 200, 300, 400, và 600 có dạng chất lỏng, nhớt, không màu; khi nặng từ 1000, 1500, 4000 và 6000 có dạng như sáp ong màu trắng.

Tuỳ theo kích thước của hiện vật cần được xử lý mà nhân viên bảo quản sẽ chọn lựa một trong hai cách thức là: ngâm toàn bộ hiện vật vào dung dịch hay phun khí. Tuy nhiên phổ biến hơn vẫn là ngâm toàn bộ vào dung dịch PEG 2% tại nhiệt độ 60oC, sau đó tăng dần dung dịch này lên đến 100%. Thời gian ngâm và tỉ lệ tăng PEG phụ thuộc vào kích cỡ, hình dáng và mức độ phân chia phân tử của hiện vật. Trong thời gian ngâm, không khí nóng sẽ làm lượng PEG di chuyển trên bề mặt gỗ. Sau đó hiện vật này sẽ được làm khô với độ ẩm tương đối(R.H) là 90%, và giảm dần xuống 65%. Nếu RH cao hơn mức cho phép thì hiện vật dễ bị đóng rêu, mốc. Ngược lại, khi RH thấp hơn mức yêu cầu sẽ gây ra hiện tượng mất nước nhanh.

Phương pháp phun khí chỉ được sử dụng trong rất ít trường hợp, (mà trường hợp được biết đến nhiều nhất và đưa vào tư liệu bảo quản là quá trình xử lý bảo quản thân tàu Wasa), hiệu quả nhất vẫn là xử lý những khối gỗ có kích thước lớn, không thể phân ra từng phần để ngâm vào dung dịch. Các thông số cần thiết cũng tương tự như khi xử lý bằng phương pháp ngâm. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chuyên viên bảo quản còn phải quan tâm đến tần số, thời gian, và tốc độ phun khí, cũng như nhiệt độ và độ ẩm tương đối của vùng không khí bao quanh.

  1. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG BUTANOL ĐỘ 3 KẾT HỢP PEG-LÀM LẠNH, LÀM KHÔ

Sau những thử nghiệm thành công từ 1968 đến 1969, Broson Chrsitensen (Đan Mạch) đã chính thức công bố phương pháp này và áp dụng vào việc xử lý những hiện vật gỗ ở Brede năm 1972.

Theo phương pháp này, hiện vật sẽ được rút nước dần dần bằng T-butanol, ở nhiệt độ cần thiết từ 44-47oC. Tiến trình này được kiểm soát theo tỉ lệ phần trăm từ 66-90-100. Sau quá trình loại bỏ nước , nhiệt độ yêu cầu tăng dần từ 52-54oC và một dung dịch PEG 4000 được đưa vào cho tới khi độ thấm của PEG/T-butanol đạt được là 40%. Sau một quãng thời gian thích hợp, dung dịch 40% này sẽ được thay bằng loại 60%. Sau vài ngày, vật gỗ sẽ được lấy ra khỏi dung dịch, bọc lại bằng một lớp nhựa, đưa vào làm đông lạnh. Rồi lại tiếp tục được tháo khỏi lớp nhựa bọc để đưa vào phòng chân không nhằm loại bỏ butanol. Các bồn chứa phải được thiết kế kỹ lưởng, tránh làm butanol thoát ra, nguy hiểm cho sức khỏe của con người, đồng thời cũng làm giảm mức độ thẩm thấu dung dịch vào gỗ.

Cần cẩn trọng khi áp dụng phương pháp này, vì butanol dễ cháy, dù không nổ nhưng nó có thể làm nhân viên bảo quản bị nhiễm độc (với các dấu hiệu ban đầu là tiêu chảy, xây xẩm…). Khi làm việc với butanol, phải thoa kem bảo vệ mặt và tay.

BẢNG THEO DÕI TIẾN TRÌNH XỬ LÝ

66%      T-butanol/water         60 ngày với nhiệt độ 44-47oC

90%                                         50 ngày

100%                                       60 ngày

40%      PEG/T-butanol           35 ngày với nhiệt độ 54-55oC

66%                                           8 ngày

Đông lạnh với CO2                 24 giờ với nhiệt độ âm 20-30oC

Đặt trong chân không              hơn 17 ngày

Tổng cộng                                9 tháng.

  1. PHƯƠNG PHÁP DÙNG TIA GAMMA

Phương pháp này được nghiên cứu và áp dụng bởi Trung tâm nghiên cứu hạt nhân Grenoble. Toàn bộ quá trình gồm hai giai đoạn: cho gỗ thấm nhựa styrene-polystere; cô đặc nhựa có trong thân gỗ.

*Giai đoạn làm thấm: Nước trong thân gỗ được thay thế dần bằng nhựa styrene-polystere qua một dung môi. Nhựa này không tan trong nước. Bước đầu là quá trình thay thế nước-dung môi: nước được thay thế hẳn bằng dung môi, sau khi tiến hành một loạt các động tác ngâm gỗ vào dung môi alcohol, acetone. Khi thành phần của nước trong lần ngâm cuối cùng được phân tích, cho chỉ số là 0%, thì giai đoạn này hoàn tất. Bước thứ hai là quá trình thay thế dung môi – nhựa: động tác tương tự được lập lại nhằm thay thế dung môi thấm trong gỗ bằng nhựa styrene-polystere. Giai đoạn này kết thúc khi thành phần dung môi trong lần ngâm cuối cùng không vượt quá 1%.

* Giai đoạn làm cô đặc nhựa: hiện vật gỗ sau khi thấm nhựa styrene-polystere sẽ được đưa vào  phòng bức xạ chiếu tia gamma từ nguồn cobal 60. Quá trình trùng hợp nhựa sẽ tỏa nhiệt. Cường độ phóng tia có thể điều chỉnh để nhiệt độ tăng đến 600C. Độ rắn chắc có thể đạt được ở mức thích hợp là 3Mrd. Thời gian bức xạ thay đổi từ 24-48 giờ.

Ngoài những phương pháp giới thiệu trên đây, theo thời gian, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với lòng say mê cống hiến cho sự nghiệp bảo tàng toàn thế giới, chắc chắn trong tương lai, chúng ta sẽ còn được thụ hưởng nhiều thành tựu từ nhiều phương pháp mới nữa. Tuy nhiên chỉ với một vài phương pháp trên đây thôi, đã góp phần cho hàng ngàn hiện vật gỗ trên thế giới được bảo quản với diện mạo trung thực nhất, chất lượng tốt nhất, nhằm giới thiệu cho nhân loại những kho tàng vô giá đã từng nằm dưới biển khơi; những tài liệu quý giá nằm trong đầm lầy, đồng ruộng… đã góp phần tạo nên diện mạo sinh hoạt một thời của nhân loại.