Nguyên lý chẩn đoán và phát hiện bệnh cá

Nguyên lý chẩn đoán và phát hiện bệnh cá
Đánh giá

Nguyên lý chẩn đoán và phát hiện bệnh cá

(Ts. Phạm Minh Đức Khoa Thủy Sản – Trường Đại Học Cần Thơ)

images (1)

I. Giới thiệu:

Nguyên lý chẩn đoán và phát hiện bệnh cá chính xác có ý nghĩa rất lớn trong việc quản lý sức khỏe cá nuôi, tăng hiệu quả kinh tế của mô hình và gián tiếp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường nuôi. Nắm vững nguyên lý chẩn đoán và phát hiện bệnh sớm và chính xác thì khả năng phòng và trị bệnh cá hiệu quả hơn. Trong bài viết này xin giới thiệu 2 nguyên lý cơ bản về chẩn đoán và phát hiện bệnh cá.

II. Nguyên lý phát hiện bệnh cá:

Trong chẩn đoán bệnh thì những tác nhân gây bệnh truyền nhiễm như vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm vi rút cần phải được xem xét kỹ. Bên cạnh đó, những yếu tố khác như môi trường nuôi, tỉ lệ cá chết, lý lịch ao nuôi cũng cần được xem xét. Kết hợp với kiến thức và kinh nghiệm về bệnh học sẽ giúp cho việc phát hiện và chẩn đoán bệnh cá nhanh và chính xác hơn.

 

 

Bảng 1: Mối liên hệ giữa biểu hiện và dấu hiệu bệnh với tác nhân gây bệnh

 Diễn giải

Tác nhân gây bệnh

Biểu hiện của cá:  
 – Giảm hoặc ngừng ăn  Do vi rút, vi khuẩn, ký sinh trùng (KST) hoặc yếu tố môi trường
 – Bơi lội bất thường  Do vi rút, vi khuẩn, KST, nấm hoặc môi trường nước xấu
 – Tập trung nguồn nước  Do vi khuẩn, KST nhiều ở mang hoặc hàm lượng oxy thấp
 – Bơi lội mạnh và phóng

trên mặt nước

 Do vi rút, ký sinh trùng hoặc độc chất
Dấu hiệu bệnh lý ngoài:  
 – Mang bị hoại tử  Do vi khuẩn, KST hoặc nấm
 – Mang nhiều nhớt  Do vi khuẩn, KST, môi trường nuôi hoặc dinh dưỡng
 – Mang nhợt nhạt  Do vi rút, vi khuẩn hoặc dinh dưỡng
 – Da nhiều nhớt  Do KST hoặc môi trường nuôi
 – Mất sắc tố trên da  Do vi khuẩn hoặc KST
 – Da sậm đen  Do vi rút, vi khuẩn, dinh dưỡng hoặc KST ở mắt
 – Xuất huyết, xung huyết  Do vi rút, vi khuẩn, KST hoặc độc chất
 – Vây bị mòn, xuất huyết  Do vi khuẩn, KST hoặc rối loạn sinh lý, sinh hóa
 – Mắt lồi, xuất huyết  Do vi rút, vi khuẩn, KST hoặc khí CO2 cao
 – Lở loét, thương tổn  Do vi khuẩn hoặc KST
 – Phù thân  Do vi khuẩn, vi rút, hoặc KST đơn bào
 – Vảy bị hư, mòn  Do vi khuẩn, vi rút hoặc KST
 – Bụng xưng to  Do vi rút, vi khuẩn hoặc KST
 – Tăng trưởng chậm, u nhỏ cơ  Do vi rút, KST, hoặc nấm
Dấu hiệu bệnh lý trong:  
 – Sạch và có dịch màu vàng trong xoang bụng  Do vi rút, hoặc vi khuẩn (ít)
 – Dịch máu và dơ bẩn trong xoang bụng  Do vi khuẩn
 – Nội quan bị xung huyết  Do vi rút hoặc do vi khuẩn
 – Gan nhợt nhạt, mềm, dễ vụn  Do vi rút, vi khuẩn hoặc dinh dưỡng
 – Gan bị đốm, vằn, xung huyết, đốm xuất huyết  Do vi rút hoặc do vi khuẩn
 – Gan, thận, lá lách có khối u nhỏ trắng  Do KST, vi khuẩn hoặc khối u
 – Lá lách bị xưng và đỏ sậm  Do vi rút hoặc vi khuẩn
 – Thận đỏ sậm, nhạt màu, hoặc bị mềm  Do vi rút hoặc vi khuẩn
 – Ruột không có thức ăn, mềm nhũn, đốm đỏ  Do vi rút hoặc vi khuẩn
 – Thận có vùng trắng lớn, khối u không cân đối  Do vi khuẩn, KST hoặc do nấm
 – Cơ có đốm xuất huyết hoặc hoại tử có dạng mủ  Do vi rút hoặc do vi khuẩn
 – Cơ có khối u màu trắng hoặc màu vàng  Do KST

Giải phẫu bệnh phẩm quan sát:

Sau khi quan sát và ghi nhận biểu hiện và dấu hiệu bên ngoài. Giải phẫu bệnh phẩm có ý nghĩa rất quan trọng giúp đánh giá ban đầu về tác nhân gây bệnh có thể do vi rút, vi khuẩn hoặc ký sinh trùng (Bảng 1). Xoang bụng sạch, dịch màu vàng nhạt thường do tác nhân vi rút. Xoang bụng có chứa dịch máu và đục, nội quan bị xưng lên, có nhiều khối u, hoặc đốm trắng trên nội quan thường do vi khuẩn gây ra. Nội quan xuất hiện những đốm trắng hoặc vàng nhỏ có nhiều kích cỡ khác nhau thường do ký sinh trùng. Nội quan bị xung huyết, hoặc xuất huyết đồng đều thường bị viêm nhiễm hoặc nhiễm trùng máu, trong trường hợp này tỳ tạng thường đỏ sậm, sưng hoặc nở rộng, gan nhợt nhạt, mềm nhũn hoặc có nhiều đốm xuất huyết, thận bị xưng lên và mềm, ruột không có thức ăn, có khi có dịch màu trắng hoặc trộn lẫn máu, thành ruột mềm nhũn và đốm đỏ. Nếu khí Nitrite cao gây độc cho cá thì nội quan bị màu nâu.

 

III. Nguyên lý chẩn đoán bệnh cá:

Trong chẩn đoán bệnh cá, một số lượng nhỏ mẫu cá bệnh được kiểm tra để đánh giá hiện trạng sức khỏe cá nuôi, vì vậy việc chọn mẫu khảo sát phải đại diện cho quần thể ao nuôi. Chọn mẫu cá bệnh có dấu hiệu bệnh lý hoặc yếu ớt. Xác định tác nhân gây bệnh căn cứ vào biểu hiện của cá, nguyên lý phát hiện cá bệnh, dấu hiệu bệnh lý ngoài và nội quan. Qui trình chẩn đoán bệnh cá bao gồm kiểm tra ngoại ký sinh, phân lập và định danh vi khuẩn, vi rút hoặc nấm được thể hiện qua sơ đồ sau:

 

Untitled